PHÂN TÍCH THỊ TRƯỜNG

 

1. Phân tích thị trường thép trong nước và quốc tế

Trong bối cảnh nền kinh tế thế giới đang trên đà phục hồi, giá dầu thô tăng cao, lũ lụt tại Úc và khó khăn trong khai thác quặng sắt do thời tiết giá lạnh tại Châu Âu, giá thép thế giới liên tục tăng bất thường và đạt sản lượng tiêu thụ cao.

Trong tháng 1/2011, sản lượng thép thô của thế giới tiếp tục tăng. Theo số liệu thống kê từ Hiệp hội thép thế giới, sản lượng thép thô của 64 nước là 119 triệu tấn, tăng 5,3% so với cùng kỳ năm ngoái. Trong đó điển hình như Trung Quốc đạt 52,8 triệu tấn (tăng 0,5% so với cùng kỳ năm trước), Nhật Bản đạt 9,7 triệu tấn (tăng 10,7%), Mỹ đạt 6,8 triệu tấn (tăng 9,4%) Hàn Quốc đạt 5,6 triệu tấn (tăng 24,2%), Đức đạt 3,7 triệu tấn (tăng 4,4%). Diễn biến cơ bản của một số thị trường trong tháng 1 và đầu tháng 2/2011 như sau:

Thị trường Bắc Mỹ: Thị trường này tăng trưởng mạnh về cả sản lượng và tiêu thụ với mức công suất của các nhà máy thép tại Mỹ tiếp tục tăng cao và đạt 75,3%, tăng 7,2% so với cuối năm 2010. Do ảnh hưởng của giá dầu thô tăng cao, thép phế liệu cũng như quặng sắt và than cốc liên tục tăng khiến giá thép thành phẩm tại thị trường này tăng khoảng 100 USD/tấn. Cũng theo thống kê của Bộ Thương Mại Mỹ, trong tháng 1/2011,Mỹ đã nhập 1,858 triệu tấn các sản phẩm thép, tăng 23,2% so với cùng kỳ năm ngoái và tăng 9,5% so với tháng trước.Theo giấy phép nhập khẩu thép của Mỹ, tính đến 23/2, Mỹ đã cho phép nhập khẩu 1,35 triệu tấn thép trong tháng 2, thấp hơn so với mức nhập khẩu trong tháng 1. Do đó, sản lượng nhập khẩu thép của Mỹ trong tháng 2 sẽ giảm nhẹ trong tháng 1. Nhìn chung, giá thép tại khu vực thị trường thép Bắc Mỹ trong tháng 3 và tháng 4 chưa thể có xu hướng giảm giá.

Theo giá chào hàng phôi thép của một số nhà phân phối quốc tế lớn giao trong tháng 3 và tháng 4/2011: 680-700 USD/tấn C&F cảng Việt Nam. Nhìn chung, phôi thép Châu Mỹ không thâm nhập được vào thị trường Việt Nam do không thể cạnh tranh với các nguồn cung từ các thị trường khác.

Thị trường thép Châu Âu: Trong tháng 1 và tháng 2 các nhà máy thép tại Châu Âu phải đối mặt với sức ép tăng giá do giá quặng sắt và than cốc tăng cao. Theo dự báo của Tata Steel Europe Ltd., chi phí đầu vào sẽ tăng 70-80 Euros/tấn (114-130 USD/tấn) trong quí II năm nay do giá nguyên liêu thô như quặng sắt và than cốc giao ngay tăng cao trong quí I (việc tăng giá trong quí I đã được chấp nhận trên thị trường). Theo nguồn từ CIS thì các nhà máy thép của Nga và Ucraina vừa thông báo mức tăng giá thép trong tháng 3 so với tháng 2 tại Nga là 90-165USD/tấn và tại Ucraina là 20 USD/tấn, trong thực tế 2 thị trường cung cấp nguyên liệu thép lớn này của Châu Âu cũng đã tạm hoãn việc công bố chính sách giá mới trong đầu tháng 2 do sự biến động lớn của thị trường.

Theo giá chào hàng phôi thép của một số nhà phân phối quốc tế lớn giao trong tháng 3 và tháng 4/2011: 660-680 USD/tấn C&F cảng Việt Nam. Hàng năm, Việt Nam nhập khẩu một lượng lớn phôi thép từ hai thị trường Nga và Ucraina. Do đó, những biến động về giá phôi thép tại hai thị trường này có tác động lớn đến giá thép tại Việt Nam.

Thị trường Châu Á: Tại Nhật Bản và Hàn Quốc, JFE Steel và Nippon Steel (hai nhà sản xuất thép lớn) thông báo mức tăng giá thép tấm là 242 USD/tấn cho quí II năm nay để đối phó với việc tăng chi phí đầu vào. Giá hợp đồng đã ký kết của than cốc và quặng sắt cho quý II tăng cao, lần lượt là 30% và 25%. Do giá nguyên liệu biến động liên tục và bất thường, nhiều hãng cung cấp muốn chuyển sang ký kết các hợp đồng ngắn hạn thay vì các hợp đồng dài hạn (hợp đồng theo tháng thay vì theo quý). Do giá nguyên liệu thô tăng lên nên giá bán tại Nhật Bản và Hàn Quốc có thể tăng 200 USD/tấn trong tháng 3 và tháng 4. Tình trạng tương tự cũng diễn ra ở Đài Loan khi một số hãng thép lớn như China Steel Corp., đã tăng giá thép giao hàng tháng 4 và tháng 5 thêm 150USD/tấn vì giá nguyên liệu đầu vào tăng cao do ảnh hưởng bởi thạm họa thiên nhiên tại Úc và Brazil. Thị trường Trung Quốc với sản lượng thép khoảng 600 triệu tấn/năm chiếm khoảng 50% sản lượng thép thế giới, và cũng là nước nhập khẩu nguyên liệu thô cao nhất thế giới, trong suốt năm 2010, giá thép của nước này luôn ở mức cao do lượng nhập khẩu nguyên liêu trong năm rất lớn và giá nguyên liệu đầu vào tăng (giá quặng sắt và than cốc đạt mức tương ứng là 195USD/tấn và 400 USD/tấn). Trước tình hình lo ngại lạm phát tăng cao, chính phủ Trung Quốc đã có nhiều biện pháp thắt chặt tín dụng và quản lý chặt chẽ hơn thị trường bất động sản, khiến nhu cầu thép nội địa giảm nhẹ vào tháng 2/2011. Theo dự báo của Bộ thương mại Trung Quốc, giá thép sẽ giảm hơn nữa khi nguồn cung ngày càng tăng và nước này mở cửa hàng dự trữ. Trong tháng 2 giá thép đã giảm 0,6% so với tháng 1 và lượng hàng tồn kho tại các nhà sản xuất lớn và chính trong nước này trong vòng 20 ngày đầu tháng 2 đã đạt 9,46 triệu tấn, tăng so với mức 7,57 triệu tấn trong cả tháng 1. Tuy nhiên, các chuyên gia ngành công nghiệp Trung Quốc phân tích, việc Ấn Độ nâng thuế xuất khẩu đối với quặng sắt cục và quặng sắt mịn lên 20% từ tháng 3 cũng góp phần làm tăng chi phí cho các nhà SX thép Trung Quốc thêm 25 USD/tấn (đối với các nhà SX thép nhập khẩu quặng từ Ấn Độ). Nhìn chung, triển vọng giá thép Trung Quốc là khó đánh giá và chưa rõ ràng.Tuy nhiên, các nhà sản xuất tuyên bố họ không thể điều chỉnh giảm giá thêm nữa do mức giá như hiện tại đã thấp hơn so với chi phí đầu vào. Ngày 6/3, các nhà sản xuất phôi lớn ở tỉnh Hà Bắc đã nâng giá phôi (trả tiền trước) Q235 xuất xưởng thêm 2 USD/tấn lên mức 640 USD/tấn, thực tế giá này cũng thấp hơn so với trước tết là 100 NDT/tấn.

Theo giá chào hàng phôi thép của một số nhà phân phối quốc tế lớn giao trong tháng 3 và tháng 4/2011, thì giá chào của các khu vực thị trường là rất khác nhau từ 680-700 USD/tấn C&F cảng Việt Nam. Trong năm 2010, do giá thành sản xuất và thuế xuất khẩu tăng cao đã khiến cho lượng thép nhập khẩu vào Việt Nam hạn chế. Do đó, thị trường thép Việt Nam trong năm qua ít bị ảnh hưởng trực tiếp bởi giá thép tại Trung Quốc.

Phân tích giá bán thép nhập khẩu từ thị trường quốc tế giao hàng tháng 3, tháng 4 và tháng 5/2011:

Công nghệ lò cao sản xuất tại nước ngoài:

TT Khoản mục Đơn giá trung bình (USD/tấn) Tiêu hao

(tấn)

Chi phí

(USD/tấn)

1 Giá quặng sắt quốc tế (63%) 195 1,70 331
2 Giá than cốc quốc tế(95%) 395 0,65 256
3 Chi phí SX phôi khác quốc tế 45
4 Giá thành sản xuất của phôi quốc tế 632
5 Chi phí vận chuyển về VN 20
6 Giá C&F cảng VN 652
7 Thuế nhập khẩu (8%) 52
8 Chi phí sản xuất thép thành phẩm 50
9 Giá thành sản xuất thép tại VN 754
10 Giá thành sản xuất thép tại VN (VNĐ) (21.900 VNĐ/USD) (Chưa bao gồm VAT) 16.500.000

Công nghệ lò điện sản xuất trong nước:

TT Khoản mục Đơn giá trung bình

(USD/tấn)

Tiêu hao

(tấn)

Chi phí

(USD/tấn)

1 Thép phế liệu nhập khẩu 480 1,150 552,00
2 FeroMn 1.090 0,013 14,17
3 Chi phí điện (với lò điện tại việt nam) (700 Kw/Tấn) 33,59
4 Chi phí SX khác 65,47
5 Giá thành SX phôi tại Việt Nam (Chưa bao gồm VAT) 665,23
6 Lợi nhuận của nhà máy SX phôi thép 30
7 Giá nhập phôi của nhà máy SX thép 695,23
8 Chi phí SX Thép thành phẩm 50,00
9 Giá thành SX thép tại ViệtNam 745,23
10 Giá thành SX thép tại VN (VNĐ) (21.900 VND/USD) (Chưa bao gồm VAT) 16.320.000

Sản xuất thép thành phẩm từ phôi nhập khẩu:

TT Khoản mục Chi phí (USD/tấn)
1 Giá phôi C&F trung bình nhập khẩu 670,0
2 Thuế nhập khẩu (8%) 53,6
3 Chi phí sản xuất thép thành phẩm 50,0
4 Giá thành sản xuất thép tại VN 773,6
5 Giá thành SX thép tại VN (VNĐ) (21.900 VND/USD) (Chưa bao gồm VAT) 16.941.000

2. Một số nhận xét và đánh giá

Do giá nguyên liệu đầu vào tăng trong đầu năm 2011, các nhà máy SX thép xây dựng trong nước bị tăng chi phí SX như sau:

Khoản mục Chi phí tăng thêm

(Đồng/Tấn)

1- Tăng do giá điện tăng 165 Đồng/Kwh

(Làm tăng giá SX phôi thép và thép thành phẩm)

128.000
2- Tăng giá do giá dầu tăng 3.900 Đồng/lít

(làm tăng giá thành SX thép và tăng giá vận tải 10%)

130.000
3- Tăng do lãi suất tăng khoảng 3%/năm 127.000
4- Tăng do tỷ giá USD/VND (So với thời điểm 31/12/2010) tiền VND đã mất giá thêm 3,15%) 460.000
Tổng cộng 845.000

Nhìn chung, một số nhà máy hiện nay đang sử dụng nguyên liệu nhập khẩu năm 2010, với mức giá còn thấp, nên hiện nay các nhà máy SX thép xây dựng đang bán với giá từ 15.900 Đồng/Kg đến 16.300 Đồng/kg (Chưa bao gồm thuế VAT, chi phí vận tải đển dự án), mức giá này là lỗ với giá phôi hiện hành. Đối với các nhà máy SX thép tự sản xuất được phôi thép (theo công nghệ lò điện, nguyên liệu thép phế) giá bán hiện nay đảm bảo cho họ hòa và có lãi nhỏ. Với các nhà máy SX thép phải nhập khẩu phôi thép (hiện nay 60% phôi vẫn phải nhập khẩu) như VPS, Vinausteel, TISCO, HPS, Vinakansai… với giá phôi hiện nay sx trong tháng 4 và tháng 5 sẽ lỗ từ 500 Đồng/Kg đến 1.000 Đồng/kg. Từ những phân tích nêu trên cho thấy đối với nguồn nguyên liệu (phôi thép) nhập từ Châu Âu, Mỹ, Nhật Bản và Hàn Quốc, giá thành SX thép xây dựng trong tháng 4 và tháng 5 chắc chắn sẽ tăng thêm từ 600 Đồng/kg đến 1.000 Đồng/kg. Tuy nhiên vẫn còn một số nhân tố khó dự báo như thị trường Trung Quốc, tỷ giá ngoại tệ hay lãi suất, khiến xu hương giá từ tháng 6 đến cuối năm rất khó đoán.

Hà nội, ngày 8 tháng 3 năm 2011

Công ty cp Gang Thép Việt Nam

*

*

Top